Một số loại hình bài tập mới cần được xây dựng-3B


– Bài tập rèn luyện HS năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

– Bài tập bằng hình vẽ

– Bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm

– Bài tập sử dụng đồ thị

– Bài tập vẽ đồ thị

– Bài tập thực nghiệm định lượng

– Bài tập về các hiện tượng tự nhiên

– Bài tập về bảo vệ môi trường

____________

Lưu ý.

1. Các em nhấn vào “trả lời” ở mục comment mỗi nhóm để phản hồi ý kiến cho bài tập các nhóm bạn đã xây dựng.

Ví dụ: nhóm 5 phản hồi cho nhóm 6: Vào mục nhóm 6–> nhấp trả lời với nội dung: Nhóm 5: “…..”–> gửi phản hồi.

2. Nhấp chọn “Fullscreen” phía trên văn bản để xem văn bản được rõ hơn.

Nhóm 4

50 phản hồi

    • Nhóm 5 nhận xét bài tập nhóm 1:

      -2 bài tập nhóm 1 đưa ra tương đối phù hợp với dạng bài tập rèn luyện năng lực và giải quyết vấn đề.
      + Ở bài 1, đòi hỏi HS phải phát hiện được bài tập này có 2 trường hợp.
      + Ở bài 2, đòi hỏi HS phải thấy mối liên quan giữa các chất.

    • 2 bài tập nhóm 1 đưa ra tương đối hay. đặc biệt bài 2 (như nhóm 5 đã nhận xét là ” đòi hỏi học sinh phải thấy mối liên quan giữa các chất”). Tuy nhiên theo nhóm 7 bài 1 nếu xếp vào dạng “bt rèn luyện HS năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề” cũng chưa thực sự phù hợp. Vì nếu gặp bài toán này HS sẽ chỉ giải 1 trường hợp( mà không cần biết còn trường hợp nào nữa hay không?). còn phía giáo viên phải cung cấp cho HS biết là có 2 trường hợp, và vì đây là dạng toán điển hình nên giáo viên phải giải trước thì đa số học sinh mới nắm được . Nếu như vậy học sinh sẽ chỉ cần nhớ máy móc là gặp dạng này thường sẽ có 2 trường hợp và cứ làm theo cách của giáo viên chỉ là làm được rồi.

      • nhóm 1 không nghĩ vậy.bài 1 là dạng bài tập cần học sinh nắm vững kiến thức mới có khả năng làm được. nếu làm máy móc thì sẽ sai.

    • Nhóm 6 nhận xét:
      2 bài tập mà nhóm 1 đưa ra khá phù hợp với việc rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
      Bài 1: Nếu HS chưa nắm bắt vấn đề, các em sẽ chỉ giải bài toán với trường hợp kết tủa tạo ra là lớn nhất mà không nghĩ đến trường hợp kết tủa bị tan một phần.
      Bài 2: Giúp HS xây dựng mối quan hệ giữa các chất
      Nhóm 6 cũng có góp ý như sau:
      Bài tập 2 có thể nâng cao hơn khi thay ” chỉ dùng quỳ tím” bằng “chỉ dùng một thuốc thử”, thì các em sẽ phải suy luận nghĩ ra nhiều hướng, từ đó phát triển tư duy hơn cho các em.

    • Chua nhan duoc bai.

    • 2 bài tập đưa ra thỏa mãn yêu cầu là ” bài tập bằng hình vẽ” . đặc biệt bài 2 có hình dụng cụ thí nghiệm giúp cho học sinh hình thành kĩ năng thì nghiệm

    • bài 1 không hay lắm.hình vẽ chẳng nói lên được gì.bài 2 có hính vẽ nhưng câu hỏi chưa khai thác hiệu quả của câu hỏi.

    • nhóm 8
      Trong hai bài tập nhóm 2 đưa ra thì nhóm mình thấy bài tập 2 khá hay và thích hợp với dạng ” bài tập bằng hình vẽ”, thông qua hình vẽ hs trả lời được yêu cầu của đề bài đồng thời còn giúp học sinh biết được quy trình của phương pháp điều chế khí oxi trong phòng thí nghiệm.
      Với bài 1 thì nhóm mình nghĩ bài tập này chưa phù hợp lắm vì hình vẽ trong bài này thì có lẽ không cần thiết, vì học sinh có thể hình dung trong Đầu chỗ nối hai kim loại mà không cần phải vẽ hình ra.

      • Nhóm 6 nhận xét bài của nhóm 2 như sau:
        Cả 2 bài tập đều sử dụng hình vẽ rất phù hợp với yêu cầu đề bài, nhưng nhóm mình cũng có vài lưu ý nho nhỏ:
        Ở bài tập 1, hình vẽ về sợi dây là không cần thiết lắm, HS có thể tự hình dung ra cũng được. Mình thấy ở bài tập này có thể sử dụng hình vẽ về sơ đồ pin điện hóa (nói rõ 2 cực âm và dương là chất nào) khi giải bài tập cho HS thì hay hơn và HS sẽ dễ hiểu bài hơn.
        Ở bài tập 2, hình vẽ đẹp và rất chi tiết, phù hợp, dựa vào hình vẽ, Hs có thể trả lời được các yêu cầu của câu hỏi và biết cách thu oxi bằng phương pháp dời chỗ nước. Qua đó phát triển kỹ năng quan sát, óc phán đoán và giải quyết vấn đề cho HS.

    • nhóm 9 nhận xét:
      Ưu điểm:
      -Nhóm 3 có nêu rõ những ưu điểm, nhược điểm và các dạng bài tập của bài tập sử dụng đồ thị.
      -Bài tập phản ánh đúng với câu hỏi của nhóm.
      -2 ví dụ mang được tính điển hình cho các dạng bài tập mà nhóm đưa ra, có rút ra một số sai lầm học sinh mắc phải ở ví dụ 2.
      Góp ý hoàn thiện:
      -Cách giải của nhóm hơi vắn tắt, nên giải cụ thể hơn vì dạng bài tập này cũng khá lạ đối với học sinh.

    • Theo nhóm 7 hiểu dạng bài tập cô đem ra là trong đề bài tập có đồ thị và học sinh sử dụng đồ thị đó để giải.Còncách hiểu của nhóm 3 là từ đề bài tập rồi dùng phương pháp vẽ đồ thị rồi dùng đồ thị để giải bài tập.
      nếu theo cách hiểu của nhóm 3 thì theo nhóm 7, chỉ nên vẽ đồ thị khi bài tập ra trong 1 khoảng giá trị như bài tập 2. Còn bài tập 1, cách giải đồ thị cũng hay nhưng tốn thời gian và không có hiệu quả. Dùng đồ thị đó để giải thích học sinh (khi mới gặp dạng này lần đâu) khi nào chỉ có 1 trường hợp và khi nào có 2 trường hợp. còn khi giải cho học sinh chỉ cần làm 2 trường hợp:
      – nếu nCa(OH)2ban đầu=nCaCO3 thì nCO2=nCaCO3
      -Nếu nCa(OH)2 ban đầu > nCaCO3 thì nCO2=nCaCO3 hoặc nCO2=nCaCO3+ 2 (nCa(OH)2ban đầu- nCaCO3)
      và không cần vẽ đồ thị

    • Nhóm 10 nhận xét:
      * Ưu điểm:
      − Hình vẽ rõ ràng, ghi chú trên đồ thị khá đầy đủ;
      − Cách giải ngắn gọn, giúp hs không mất nhiều thời gian khi làm bài nếu đã nắm được vấn đề .1
      * Khuyết điểm:
      − Cần lưu ý hs là sử dụng đồ thị chỉ áp dụng có hiệu quả trong bài tập trắc nghiệm, trong bài tập tự luận cần sử dụng phương pháp khác (dùng bảng biện luận sản phẩm theo tỷ lệ số mol giữa NaOH/KOH và CO2/SO2);
      − Chưa có hướng dẫn giải dạng tổng quát, giúp hs bao quát được yêu cầu của đề cũng như loại bỏ những phương án nhiễu một cách nhanh chóng và hợp lý (loại những phương án chỉ có 1 giá trị thể tích CO2 ở ví dụ 1 nếu có…);
      − Chưa đưa ra nguyên tắc xây dựng đồ thị, không nhất thiết áp dụng các bước như bên Toán nhưng cũng nêu được những điểm quan trọng trên đồ thị thể hiện số mol kết tủa cực đại, quá trình số mol kết tủa tăng dần và giảm dần… (giúp ích cả trong việc giải thích hiện tượng khi sục CO2 và SO2 vào dung dịch Ca(OH)2 và Ba(OH)2 từ từ đến dư);
      − Ở ví dụ 1: dòng đầu tiên (a = 0,2, n↓ = 0,15!) dễ gây mâu thuẫn cho hs → nên nói rõ là số mol kết tủa cực đại sẽ bằng số mol Ca(OH)2 ban đầu.

    • Bài tập nhóm 3 đưa ra hay và mới nhưng cách giải hơi khó hiểu. Nếu giải theo cách này nhanh nhưng có nhiều bất lợi: nhiều bài không cần vẽ đồ thị, dễ mắc sai lầm,….

    • Nhóm 8 nhận xét
      Trong dạng bài tập này các bạn nêu rõ được ưu điểm, nhược điểm và những dạng bài tập sử dụng đồ thị.
      2 bài tập nhóm đưa ra cũng khá phù hợp với dạng này.
      Nhóm mình nghĩ bài tập 2 sử dụng đồ thị để giải là rất phù hợp, giúp hs tránh mắc sai lầm.
      Tuy nhiên, với bài tập 1 ngoài việc đưa ra đồ thị , các bạn nên ghi chú thêm la : nCa(OH)2# n CaCO3 => có 2 trường hợp :
      1) nCO2 dư
      2) nCa(OH)2 dư
      để học sinh có thể vận dụng vào các trường hợp khác và có thể giải mà không sử dụng đồ thị.

    • Nhóm bạn có phân tích ưu khuyết điểm của dạng bài tập này, nhưng chưa khai thác hết ưu điểm.
      Phần ưu điểm theo nhóm mình không hẳn là trực quan sinh động mà dạng bài tập này chủ yếu giúp HS dễ dàng trong việc giải bài tập và đa dạng pp.
      Nhóm 3 chọn 2 bài tập rất phù hợp với nội dung

    • nhóm 9 nhận xét:
      Ưu điểm:
      -Nhóm có ghi rõ về ý nghĩ của bài tập vẽ đồ thị.
      -Bài tập phản ánh đúng câu hỏi của nhóm.
      -2 bài tập ví dụ mang tính điển hình cho dạng bài tập vẽ đồ thị.
      -Đồ thị vẽ rõ ràng,cách giải tương đối chi tiết,dễ hiểu.
      Góp ý hoàn thiện:
      -nhóm nên rút ra nhược điểm và dạng bài tập nào cần áp dụng vẽ đồ thị có hiệu quả hơn.

    • Nhóm 10 nhận xét:
      *Ưu điểm:
      − Hình vẽ rõ ràng, ghi chú và nhấn mạnh có hiệu quả;
      − Giải thích khá rõ ràng nội dung trả lời;
      * Khuyết điểm:
      − Tên tiêu đề là BÀI TẬP VẼ ĐỒ THỊ, không phải là BÀI TẬP SỬ DỤNG ĐỒ THỊ;
      − Thừa 1 cột (cột đầu tiên) trong ví dụ 1 (đúng ra thì chỉ có 8 cột ứng với 8 thời điểm thực hiện thí nghiệm);
      − Dạng đồ thì kết hợp với biểu đồ cột được trình bày ở ví dụ 1 có thể gây khó hiểu cho hs (thường thì dạng kết hợp này được dùng khi muốn so sánh 2 yếu tố trong cùng 1 giai đoạn nào đó), chỉ nên trình bày biểu đồ cột hay đồ thị cho ví dụ này (1 trục đứng và 1 trục ngang) sẽ hay hơn (áp dụng được cho tất cả các đối tượng).

      • nhóm 4 xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến của nhóm 10!
        nhóm 4 xin giải thích như sau:
        – tên đề tài có sự nhầm lẫn với nhóm 3 là đúng nhưng dạng bài tập thì hoàn toàn phù hợp với nội dung dạng bài vẽ đồ thi!
        – số cột hoàn toàn hợp lý ( 7 cột và 1 điểm giá trị tại thời gian là 0), chiều cao của các cột đúng với thang nhiệt độ. Có lẻ là do số thứ tự từ 1-9 của chương trình vẽ đồ thị excel đã làm cho nhóm bạn hiểu nhầm!.
        Ban đầu nhóm mình cũng vẽ và tính toán để tìm ra lời giải là trên giấy, đồ thị cũng đơn sơ là 1 trục hoành biểu diễn thời gian, trục tung biểu diễn thể tích. Nhưng khi gửi bài, do trình độ vi tính có hạn nên nhóm mình quyết định chọn dạng đồ thị này là hợp nhất so với các mẫu mà excel đưa ra, dạng ĐT này cũng có ưu điểm là 2 thang giá trị nằm đứng, nên mình chỉ cần kẻ đường ngang nối từ thang thời gian ( tại 25s và 45s ) tới thang giá trị thể tích , đồng thời đường nối cắt đường cong là có thể tìm ra đáp án cho câu b.

    • Hai bài tập nhóm đưa ra hay nhưng nhóm 1 nghĩ nó không phù hợp với tên bài tập. Đây là dạng bài vẽ đồ thị. bài 2 này hơi khó và nhóm 1 nghi la không vừa sức với học sinh cấp ba.Nhóm 1 nghĩ đưa ra dạng bài tập này không phù hợp với nước ta vì bài tập này thương dùng sau khi thí nghiệm nhưng ở nước ta thí nghiệm còn rất hạn chế.

      • Cám ơn nhóm 1 đã góp ý!
        nhóm 4 xin giải thích:
        thứ nhất do đề tài của nhóm mình là dạng bài chỉ dựa trên số liệu kết hợp với đồ thị toán học trả lời câu hỏi yêu cầu chứ nhóm mình không chú trọng đến tính thực tiễn. Không thể vì điều kiện làm thí nghiệm không có mà các em không có bảng số liệu để phân tích đánh giá, làm như thế thì các em đã thiệt thòi nay càng thiệt thòi hơn!.
        thứ hai do đây là dạng bài tập mới, tính phù hợp của nó thì nhóm mình nghĩ là hợp lý với chương trình phổ thông ! Các em có thể dựa vào đồ thị để phân tích, đánh giá và trả lời các câu hỏi đặt ra, hơn thế nữa! dạng bài tập vẽ đồ thị từ bảng số liệu cho trước đã được sử dụng trong bộ môn Địa lý từ lâu rồi phải không ạ! Tại sao môn Hóa học của mình lại không thể áp dụng chứ!

    • Trong dạng bài tập này các bạn nêu rõ được ý nghĩa của dạng bài tập vẽ đồ thị và đưa ra hai bài tập giải theo phương pháp vẽ đố thị khá tốt.
      Tuy nhiên theo nhóm mình nghĩ hai bài tập này còn quá phức tạp và chưa phù hợp lắm. Có thể các nên chon một số bài tập đơn giản hơn.

    • Các bạn ui, nhóm 4 ghi nhầm tên đề tài oy, chính xác phải là “Bài tập vẽ đồ thị”, không phải “Sử dụng đồ thị”. Các bạn thông cảm ha (^(–)^)

    • Ưu điểm :
      – có nêu rõ ý nghĩa của phương pháp
      Góp ý hoàn thiện :
      – Bài toán không điển hình lắm.
      – Mất thời gian vẽ đồ thị
      – Không chính xác (nếu số lượng không chẵn khi chia tỉ lệ)

    • Bài tập khá hay nhưng ít khả năng ứng dụng ở trường PT.
      Ưu điểm của loại bài tập này là trực quan sinh động. Đồ thị của bài tập 1 hơi khó hiểu, cần xem lại cách bố trí trục tung – hoành.
      Bài tập 2: Đường biểu diễn nhiệt độ nên hạ xuống trục hoành.
      Nhóm mình chỉ có nhiu đó í kiến thui. ^^

    • Nhóm 4 nhận xét :
      Ưu điểm:
      • Bài tập phản ánh đúng câu hỏi của nhóm, 2 ví dụ rất thiết thực với quá trình điều chế khí trong PTN.
      • Dụng cụ và hình vẽ mang tính minh họa tốt, cách lắp đặt đúng sơ đồ điều chế.
      • Câu hỏi đặt vấn đề cũng như giải quyết vấn đề của nhóm bạn khá hay, đòi hỏi học sinh phải có khả năng suy lý tìm ra đáp án thích hợp.
      • Cung cấp kiến thức điều chế khí cụ thể, nguyên tắc thu khí, giải thích sơ đồ cũng như cách loại bỏ sản phẩm không mong muốn rất hợp lý và đúng với chương trình học.
      o Câu 1: đòi hỏi ở học sinh khả năng lập luận dựa vào đáp án đã cho để tìm ra 3 chất A, B, C.
      o Câu 2 : yêu cầu học sinh phải quan sát hình vẽ tốt để chỉnh sửa hợp lý, kết hợp với kiến thức hóa học để giải thích cách lắp đặt dụng cụ và các chất để loại bỏ sản phẩm dư và biết khi nào thì khí sẽ đầy bình.
      Góp ý hoàn thiện:
      o Bảng kết luận câu 1 chưa rõ lắm ( chắc là lỗi kỹ thuật ).
      o Dù không có điều kiện đưa thêm nhiều bài tập nhưng các bạn cần phải rút ra ưu và nhược của dạng bài này

      • câu 1: bài tập gắn với thực tiễn,nhưng câu này chỉ nên để học sinh tham khảo không nên đưa học sinh làm.
        câu 2: bài tập hay,nhưng bài tập này chưa thấy gắn với thực tiễn cuộc sống cho lắm.

      • Nhóm 9 nhận xét:
        Ưu điểm:
        -Bài tập phản ánh đúng câu hỏi của nhóm.
        -2 bài tập ví dụ thiết thực và gần gũi với quá trình làm thí nghiệm của học sinh.
        -Sơ đồ và dụng cụ thí nghiệm được minh họa rõ ràng, chính xác.
        -2 bài tập ví dụ có mức độ khó tăng dần,câu hỏi đặt vấn đề khá tốt, cung cấp kiến thức về điều chế khí và nguyên tắc thu khí phù hợp với chương trình học của học sinh.
        Góp ý hoàn thiện:
        -Nhóm nên có rút ra ưu điểm, nhược điểm và các dạng bài tập cần áp dụng bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm có hiệu quả.

    • Nhóm 5 đưa ra 2 bài tập phù hợp với yêu cầu đưa ra.
      Chắc do lỗi kĩ thuật nên phần đáp án bị che mất một phần rồi nhưng nhóm mình xin góp ý đáp án bài 1 nên thêm là sơ đồ này thích hợp thu những khí không độc nữa vì theo sơ đồ thì miệng bình thu khí không có vật gì để che chắn miệng bình.
      Bài tập 2 khá thú vị, đòi hỏi học sinh phải quan sát thật tỉ mỉ và chi tiết mới tìm ra chỗ sai.

    • Nhóm 10 nhận xét:
      *Ưu điểm
      − Ví dụ hay;
      − Hình vẽ rõ ràng, ghi chú khá đầy đủ;
      − Giải thích cũng khá đầy đủ.
      * Khuyết điểm
      − Cần nêu ưu nhược điểm, nên làm trong phòng thí nghiệm hay dùng phương tiện trực quan;
      − Thiếu hình vẽ khóa phần dung dịch B ở ví dụ 1 và dung dịch HCl đặc ở ví dụ 2;
      − Trong những khí được điều chế ở ví dụ 1, có những khí có tính độc hại cao như Cl2, NH3, SO2 nên ở bình thu khí cần bố trí bông ở miệng bình (có tẩm hóa chất hấp thụ khí dư tràn qua, cũng là cách để nhận biết đã thu đầy khí vào bình), điều này cũng giúp hs biết thêm những cách để khắc chế những khí độc thoát ra trong quá trình làm thí nghiệm;
      − Ở ví dụ 2, gv có thể giới thiệu cho hs thay dung dịch NaOH để tẩm vào bông bằng dung dịch khác có tính kiềm yếu hơn (vì dung dịch NaOH có đặc tính ăn da tay) như dung dịch NaHCO3 loãng, dung dịch NH3 loãng…;
      − Ở ví dụ 2, có thể giải thích thêm sự có mặt của khí HCl và hơi nước trong hỗn hợp khí sau khi xảy ra phản ứng (đó là trong quá trình đun nóng bình, hơi nước và HCl đã bay hơi (HCl là axit dễ bay hơi));
      − Ở ví dụ 2, khi lắp dụng cụ theo thứ tự đó, hs sẽ đặt ra 2 vấn đề sau:
      + Thứ nhất, hơi nước có khả năng ngưng tụ trong tất cả các dung dịch (miễn là nhiệt độ của dung dịch đủ thấp so với nhiệt độ hơi nước), vậy thì có hay không việc lắp nối tiếp bình để hấp thụ hơi nước (ở đây là bình đựng H2SO4 đặc);
      + Thứ hai, nếu chọn dung dịch hấp thụ HCl là dung dịch NaOH thì sẽ mất đi 1 lượng khí Cl2 vì ở nhiệt độ thường, Cl2 cũng tác dụng với dung dịch NaOH.
      Vì thế, để tránh việc hs hiểu sai vấn đề, gv nên giải thích thêm về thứ tự và lý do chọn và lắp đặt các bình loại khí HCl và hơi nước.

    • Góp ý hoàn thiện :;
      – nên giải thích vì sao ở bt 2 dùng NaCl mà không dùng chất khác

    • Hình vẽ trực quan, sinh động thu hút học sinh.
      Bài tập 1 các bạn nên áp dụng cho chương trình THCS thì phù hợp hơn.
      Bài tập 2 các bạn nên xem lại cách lắp phễu chứa dd HCl đặc có thích hợp chưa? Có nên dùng một dụng cụ khác thay thế cho phễu được không?

    • Nhóm 5 cảm ơn những nhận xét của các bạn về 2 bài tập của nhóm 5.

    • Nhóm 4 nhận xét :
      Ưu điểm:
      • Bài tập phản ánh đúng câu hỏi của nhóm, 2 ví dụ khá hay.
      o Câu 1: đòi hỏi ở học sinh có kiến thức hóa học đời sống, cung cấp hoàn thiện kiến thức tên gọi của các chất đã được tìm ra.
      o Câu 2 : yêu cầu học sinh có khả năng phân tích dữ kiện, suy luận nguyên nhân dẫn mất màu và xuất hiện lại màu khi đun nóng dung dịch.
      Góp ý hoàn thiện:
      • Dù không có điều kiện đưa thêm nhiều bài tập nhưng các bạn cần phải rút ra ưu và nhược điểm của dạng bài này.

    • Nhóm 5 nhận xét bài tập nhóm 6:

      – 2 bài tập nhóm 6 đưa ra tương đối phù hợp với dạng bài tập thực tiễn. Như ở bài 1, nhóm 6 có cung cấp thông tin nhà máy sản xuất nước Javen ở Việt Nam.

      – Nhóm 5 có một góp ý nhỏ sau:
      Nhóm 6 chắc quên nêu phần ứng dụng thực tiễn. Vì đây là dạng bài tập thực tiễn nên theo nhóm 5, nhóm 6 nên nêu một vài ứng dụng thì bài tập của nhóm 6 sẽ hay hơn.

    • Theo nhóm 11 thì bài tập thực tiễn thì nội dung bài tập sẽ nghiêng về phần ứng dụng của chất nhiều hơn.
      Bài 1 giới thiệu ch hs biết thêm về lịch sử đều chế cũng khá hay, tuy nhiên nếu hs nào mà được gv giới thệu về nước giaven chắc có lẽ hs sẽ không cần đọc hết câu hỏi mà cũng có thể chọn được đáp án đúng.
      Nên bài 2 có lẽ là chưa sát với yêu cầu câu hỏi cho lắm tuy phần trả lời cũng liên quan chút ít đến phần công dụng tính tẩy màu của NaClO.

    • Góp ý hoàn thiện :
      – BT 1 : Không được hay lắm
      – BT 2 : nên nói rõ BT 2 theo BT 1
      – Nên đưa thêm những câu thực tiễn hơn tí nữa

    • Nhóm 5 nhận xét bài tập nhóm 7:
      – 2 bài tập nhóm bạn đưa ra phù hợp với dạng bài tập bảo vệ môi trường.
      – bài 1: cung cấp cho HS kiến thức bảo vệ môi trường trong phòng thí nghiệm.
      – bài 2: bài tập tính toán, theo nhóm mình với bài tập này HS sẽ hứng thú hơn với hóa học, và biết cách đánh giá môi trường như thế nào gọi là ô nhiễm.

    • Hai bài tập nhóm 7 đưa hợp với yêu cầu đưa ra.
      Bài 2 khá hay vì không những giúp hs biết thêm về môi trường bị ô nhiễm mà có kèm theo tính toán nữa.Điều đó giúp hs phát triển toàn diện vừa là kiến thức thực tế mà cả tư duy nữa.

      • Nhóm 6 nhận xét thấy 2 bài tập của nhóm 7 đưa ra rất hay, gần gũi và thiết thực với vấn đề bảo vệ môi trường, nhưng nhóm mình cũng cần lưu ý như sau:
        Ở bài tập 1, cần nhấn mạnh tới điều kiện phản ứng của thủy ngân và lưu huỳnh là ngay ở nhiệt độ thường (có thể viết trên PTPƯ), như vậy HS sẽ dễ dàng nhận ra rằng lưu huỳnh là chất phổ biến để khử độc thủy ngân nhờ vào khả năng phản ứng dễ dàng của chúng.
        Ở bài tập 2, nhóm mình thấy bài này rất phù hợp với vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay và nếu áp dụng ngay sau khi HS học xong bài Lưu huỳnh đioxit thì nhất định sẽ rất hay!

  1. Nhóm 4 nhận xét :
    Ưu điểm:
    • Bài tập phản ánh đúng câu hỏi của nhóm, 2 ví dụ rất thiết thực với quá trình điều chế khí trong PTN.
    • Dụng cụ và hình vẽ mang tính minh họa tốt, cách lắp đặt đúng sơ đồ điều chế.
    • Câu hỏi đặt vấn đề cũng như giải quyết vấn đề của nhóm bạn khá hay, đòi hỏi học sinh phải có khả năng suy lý tìm ra đáp án thích hợp.
    • Cung cấp kiến thức điều chế khí cụ thể, nguyên tắc thu khí, giải thích sơ đồ cũng như cách loại bỏ sản phẩm không mong muốn rất hợp lý và đúng với chương trình học.
    o Câu 1: đòi hỏi ở học sinh khả năng lập luận dựa vào đáp án đã cho để tìm ra 3 chất A, B, C.
    o Câu 2 : yêu cầu học sinh phải quan sát hình vẽ tốt để chỉnh sửa hợp lý, kết hợp với kiến thức hóa học để giải thích cách lắp đặt dụng cụ và các chất để loại bỏ sản phẩm dư và biết khi nào thì khí sẽ đầy bình.
    Góp ý hoàn thiện:
    o Bảng kết luận câu 1 chưa rõ lắm ( chắc là lỗi kỹ thuật ).
    o Dù không có điều kiện đưa thêm nhiều bài tập nhưng các bạn cần phải rút ra ưu và nhược của dạng bài này.

    • Mình xin lỗi nha! gửi nhầm nhận xét của nhóm 4 dành cho nhóm 5
      Nhóm 4 xin nhận xét nhóm bạn :
      – Bài tập phản ánh đúng mối liên hệ giữa hóa học với môi trường.
      – Câu 1 cung cấp cách sử lý đối với 1 chất lỏng dễ bay hơi và độc như là Thủy Ngân.
      -Câu 2 cung cấp số liệu thực tế về giới hạn cho phép của khí lưu huỳnh dioxit được phép thải lên bầu trời, học sinh biết cách phân tích mối nguy hại của việc thải khí này lên bầu khí quyển
      Góp ý hoàn thiện :
      – Dù không có điều kiện đưa thêm nhiều bài tập nhưng các bạn cần phải rút ra ưu và nhược điểm của dạng bài này.

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: